Tìm được việc làm là một trong những căn cứ để chấm dứt việc hưởng trợ cấp thấp nghiệp. Ngày 15/07/2020, Nghị định số 61/2020/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực thi hành sửa đổi Nghị định 28/2015/NĐ-CP về bảo hiểm thất nghiệp. Cách xác định “có việc làm” để chấm dứt trợ cấp thất nghiệp cũng thay đổi. Mời bạn đọc cùng Vinatax tìm hiểu nhé.
Căn cứ pháp lý
- Nghị định số 61/2020/NĐ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp là gì?
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Các trường hợp NLĐ được hưởng TCTN bị chấm dứt hưởng TCTN
Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 53 Luật Việc làm 2013 thì người đang hưởng TCTN bị chấm dứt hưởng TCTN trong các trường hợp sau đây:
- Hết thời hạn hưởng TCTN;
- Tìm được việc làm;
- Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;
- Hưởng lương hưu hằng tháng;
- Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng TCTN giới thiệu mà không có lý do chính đáng;
- Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;
- Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;
- Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;
- Chết;
- Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
- Bị tòa án tuyên bố mất tích;
- Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.
Thay đổi cách xác định “có việc làm” để chấm dứt hưởng TCTN của người lao động
Trước 15/7/2020
(Nghị định 28/2015/NĐ-CP) |
Sau 15/7/2020
(Nghị định 61/2020/NĐ-CP) |
Người lao động được xác định là có việc làm thuộc một trong các trường hợp sau:
– Đã giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ đủ 03 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực theo quy định của pháp luật; – Có quyết định tuyển dụng đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Ngày có việc làm trong trường hợp này được xác định là ngày bắt đầu làm việc của người đó ghi trong quyết định tuyển dụng; – Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động. |
Người lao động được xác định là có việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:
– Đã giao kết hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo công việc nhất định có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động có hiệu lực theo quy định của pháp luật; – Có quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm đối với những trường hợp không thuộc đối tượng giao kết hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm trong trường hợp này là ngày người lao động được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm ghi trong quyết định tuyển dụng hoặc bổ nhiệm; – Có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đối với trường hợp người lao động là chủ hộ kinh doanh hoặc có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp người lao động là chủ doanh nghiệp. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày người lao động thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm về việc hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh; – Người lao động thông báo đã có việc làm cho trung tâm dịch vụ việc làm. Ngày mà người lao động được xác định có việc làm là ngày ghi trong thông báo có việc làm của người lao động. |
Nghị định 61/2020/NĐ-CP đã thay đổi, mở rộng các trường hợp NLĐ được xác định là có việc làm để chấm dứt hưởng TCTN. Tuy nhiên, thời gian đóng BHTN mà người lao động chưa được hưởng TCTN sẽ được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng TCTN cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện, trừ trường hợp người lao động đã có việc làm nhưng không thực hiện thông báo để chấm dứt hưởng TCTN theo quy định.
Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng BHTN trừ đi thời gian đóng đã hưởng TCTN, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng TCTN tương ứng 12 tháng đã đóng BHTN và trừ những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng TCTN được bảo lưu trong quyết định về việc hưởng TCTN (nếu có).
NLĐ đang hưởng TCTN ký hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng có bị chấm dứt hưởng TCTN hay không?
Trước ngày 15/07/2020, NLĐ giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên thì được xác định là có việc làm và sẽ bị chấm dứt hưởng TCTN. Do đó, theo quy định trước đây, thì người lao động đang hưởng TCTN ký kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng vẫn tiếp tục được hưởng TCTN.
Tuy nhiên, từ ngày 15/07/2020 thì người lao động giao kết hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên sẽ được xác định là người lao động có việc làm để chấm dứt hưởng TCTN.
Như vậy, hiện nay, các trường hợp người lao động đang hưởng TCTN giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng thì cũng bị chấm dứt hưởng TCTN.
Trên đây là chia sẻ của Vinatax về Cách xác định “có việc làm” để chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp.